Lễ hội Điện Hòn Chén

26/08/2009 09:10:04

Lễ Hội Điện Hòn Chén (hay Huệ Nam Điện) thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, hằng năm cử hành lễ hội vào 2 kỳ: tháng ba và tháng bảy. Nghi lễ rất trang trọng.

Về tên gọi và sự tích Thánh Mẫu, có nhiều lối giải thích khác nhau: có khi bà được gọi là Pô Nagar, hoặc Pô Inư Nagar, Muk Juk, Bà Đen, Yang Pu Negara, Pô Ian Inư Nưga, Chúa Ngọc.

Theo ông Tạ Trọng Hiệp, Thiên Y A Na là một từ ghép Hán Việt. Thiên có nghĩa là trời, và một tiếng Chàm. I na, hay tiếng Rhadé: ana, có nghĩa là mẹ, mẫu. Như vậy, Thiên Y A Na có nghĩa đơn giản là Bà mẹ linh thiêng trên trời.
Người Pháp và một số nhà biên khảo khác giải thích từ Pô Y An Inư Nưga có nghĩa: Pô = ngài; Y an (Dang : thần, I na: mẹ đã qua đời, Nư ga: xứ sở).

Như vậy Thánh Mẫu Thiên Y A Na được thờ ở điện Hòn Chén có gốc là nữ thần của Chàm, khi người Việt đến định cư ở Thuận Hóa, thấy bà linh thiêng cũng thờ theo. Chữ Thiên là từ Hán Việt được ghép vào Y A Na có nguồn từ đó, sản sinh từ thời phong kiến.

Về sự tích nữ thần, đáng chú ý là sự tích của Chàm và sự tích của người Việt theo truyền thuyết của dân ở Diên Khánh.

Sự tích Pô Inư Nagar được kể như sau

Pô Inư Nagar tục gọi là Muk Juk hay Bà Đen là nữ thần được sùng bái nhất. Ngày xưa nữ thần do mây trời và bọt biển sinh ra. Trong số chín mươi bảy người chồng ở hậu cung, Pô Yan Amo là người được yêu mến nhất. Trong cuộc đa duyên với các phu quân, nữ thần sinh được ba mươi tám người con gái, về sau đều được thần hóa như mẹ.

Nữ thần là vị thần tạo lập trời đất, trầm hương và lúa, dạy dân trồng lúa. Trời đặc biệt ưa thích hương thơm của lúa và gỗ trầm, nên nữ thần mới tung lên trời một hạt lúa có cánh trắng như mây. Vua trên trời gieo hạt lúa ấy mà làm nên tất cả mọi giống lúa.

Công đức của nữ thần thật vô vàn. Nhờ công ơn nữ thần, người Chàm sử dụng một ngọn tháp để thờ ở Yjatran (Nha Trang), người Việt gọi là Tháp Bà.

Đó là dạng cổ nhất về thần thoại của Thánh Mẫu.

Dạng mới hơn là các bài văn vần lục bát và song thất lục bát, được dân gian sáng tác và sử dụng trong các lễ hội ở Huế và Nha Trang, lấy nội dung từ bài ký của Phan Thanh Giản ghi vào bia ở Tháp Bà - Nha Trang.

Nội dung sự tích này kể

Thiên Y A Na vốn ở thiên đình, con của Ngọc Hoàng thượng đế, giáng sinh làm một cô bé đêm đến hái dưa trong vườn một cặp vợ chồng già không có con tại làng Đại An. Sau khi bắt được cô, thấy dung mạo dễ thương, đẹp đẽ, họ nhận làm con nuôi. Nhưng một hôm trời lụt, nhớ cảnh Bồng Lai, cô bé tàng hình vào một thân cây kỳ nam trôi ra biển, tấp vào bờ Trung Quốc. Một hoàng tử vớt cây gỗ đem về cung. Nàng hiện nguyên hình. Hoàng tử xin vua cha cưới về làm vợ. Hai người sinh được một trai, một gái. Nhưng nàng lại nhớ quê nhà, nên một hôm biến vào thân cây ấy trôi về quê cũ. Khi trở lại làng xưa, cha mẹ nuôi đã chết từ lâu, nàng lập đền thờ tại núi Đại An rồi cùng con bay về tiên cảnh. Sau đó thường xuất hiện nhiều nơi để cứu nhân độ thế, được nhân dân tôn sùng là Thánh Mẫu, mẹ cả trần gian.

Bên Bắc triều thấy người yêu đi không trở lại, thái tử cho người chèo thuyền đi tìm. Khi gần tới nơi, thủy thủ tỏ vẻ hống hách, dọa nạt dân trong vùng và không biết kính cẩn tượng thần bà được nhân dân đặt trên chóp núi Cũ Huỳnh nên bị trời phạt, thổi một trận cuồng phong đánh đắm thuyền ấy ở cửa biển Đại An. Ngày nay nơi đó nổi lên một gò đá khắc chữ “Khoa đẩu” (chữ Champa) xem khó hiểu, và từ hồi đó trở đi trên cù lao Yến thường có thần hiển linh cứu nhân độ thế, cầu xin gì cũng được, nên dân trong vùng khắp xa gần đều thiết bàn thờ thờ phụng (theo bản dịch của Thái Văn Kiểm).

Như vậy, đã rõ, nữ thần Thiên Y A Na có gốc là Chàm, được người Chàm tôn thờ từ trước. Tại Huế, Thánh Mẫu được thờ tại điện Hòn Chén, làng Hải Cát, huyện Hương Trà. Nhưng ngôi đền được dựng tại đây từ bao giờ thị chưa ai biết rõ.

Theo một tờ thần sắc do vua Minh Mạng ban cho đền Ngọc Trản đề ngày 8-5-1834 thì đền đã có tại chỗ dưới thời Gia Long (1802 - 1820). Hẳn kiến trúc của đền này hãy còn đơn giản như lúc bấy giờ.

Người Chàm ở địa phương hẳn là người xây dựng đền đầu tiên để thờ Thánh Mẫu.

Nhiều mẫu chuyện lưu truyền tại Huế cho ta thấy sự linh ứng của Thánh Mẫu. Tài liệu của Dương Văn An trong "Ô châu cận lục" cũng cho ta biết đền có từ trước thế kỷ XVI và rất linh ứng: “Đền Y Na ở xã Khuất Phố, huyện Kim Trà, tục truyền thần là đàn bà, cũng có linh ứng".

Nhiều câu chuyện khác về sự linh ứng của Thánh Mẫu được truyền tụng trong dân gian kể về sự tuần du của vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832), khi đi ngang trước điện Hòn Chén thì có một cây gỗ rất lớn nằm chắn ngang sông, thuyền rồng của nhà vua không qua dược. Vua xuống chiếu truyền quan khâm mạng tuyên đọc trước cây gỗ và trước điện, tự nhiên cây gỗ quay lại dọc sông và chìm lìm để lối cho thuyền rồng của nhà vua và thuyền quân lính tiến lên.

Délétie, trong một bài báo kể lại truyền thuyết vua Thiệu Trị đi thuyền với đám cung nữ, một bà phi lỡ đay làm rơi xuống sông ống nhổ bằng vàng vào địa điểm gần điện; vua không tin khi người ra khuyên ông nên cầu khấn nữ thần, nhưng sau khi khấn vái thì cái ống nhổ vàng nổi lên trên mặt nước và trôi vào bờ.

Vua Đồng Khánh là người tin tưởng nhất vào sự linh ứng của Thánh Mẫu. Mẫu cho biết là ông sẽ làm vua trong vòng ba năm. Quả đúng như vậy. Sau khi tức vị, năm 1886, năm 1886, vua Đồng Khánh cho xây lại đền này một cách khang trang, đổi tên ngôi điền thành Huệ Nam (ân huệ trời Nam).

Hằng năm, xuân thu nhị kỳ, tại Huệ Nam Điện vào thời phong kiến, từ triều Đồng Khánh có quốc tế. Vị chủ tế là một triều đại diện triều đình.

Kỳ xuân tế, từ năm 1910, triều đình cử đại diện đến chủ tế nhằm tháng ba, còn kỳ thu tế do dân làng Hải Cát phụ trách nhằm tháng bảy.

Dân làng tổ chức tế tại đình, trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả các vị thần trong làng về đình. Đám rước Thiên Y Na Thánh Mẫu từ Huệ Nam đến đình làng Hải Cát tổ chức trọng thể hơn cả.

Đám rước cử hành trên những chiếc thuyền ghép lại thành những chiếc bè lớn gọi là bằng. Trên mỗi chiếc bằng có bàn thờ Thánh mẫy cùng với long kiệu. Trên long kiệu có hòm sắc của vua ban Thánh Mẫu. Liền kế đó là một chiếc bằng khác có bàn thờ, kệu và hòm sắc của nhị vị Thượng Ngàn và Thủy Cung Thánh Mẫu. Sau đó là những chiếc bằng chở các tự khí, tàn tán cờ quạt.

Long kiệu của Thánh Mẫu là kiệu thêu, do các trinh nữ ăn mặc sặc sỡ khiêng, còn các bà, người mang bình hương, ống trầu, bình trà, hòm dựng đồ trang sức, kẻ mang cờ, biển, tàn, lọng, gối, quạt v.v... Các thanh niên thì vác các đồ lỗ bộ, bát bửu và các tư lự khí khác. Đám rước đầy màu sắc rực rỡ, không khí trang nghiêm.

Khi đoàn bằng ghé bến, đám rước chuyển từ sông lên bộ, đi cho đến đình làng Hải Cát, có phường bát âm đi sau kiệu.

Trong lúc đoàn bằng khởi hành từ bên trước Huệ Nam Điện, các bà đồng đã cùng nhau lên đồng ngay ở chiếc bằng có bàn thờ Thượng Thiên Thánh Mẫu. Nhưng cuộc lên đồng hầu bóng tiếp tục cho đến khi đoàn bằng đi tới bờ, nơi đám rước chuyển từ sông lên bộ.

Dân làng đi theo đám rước cùng với các thiện nam tín nữ. Nghinh thần xong, dân làng làm lễ Túc Yết (tức yết kiến kính trọng) theo nghi thức cổ truyền.

Suốt đêm, trên mặt sông Hương và có khi ở trước đình làng là các cuộc hát thờ, hầu đồng, hầu bóng. Ngày hôm sau là Lễ chánh tế, tổ chức từ 2 đến 5 giờ sáng. Sau đó là lễ Tống thần (tiễn thần về vị trí cũ). Mặt sông Hương lại bùng lên với âm nhạc, pháo nổ tưng bừng, hàng trăm chiếc thuyền, bằng chen chúc, những bộ lễ phục rực rỡ, phản ánh trên mặt nước dưới tia nắng vàng tươi thắm ban mai.

Lễ hội điện Hòn Chèn được đánh giá là một lễ hội đầy màu sắc và tưng bừng dông đảo tín đồ vào bậc nhất ở Thừa Thiên Huế.