Huế - Bài thơ đô thị

21/02/2008 08:29:40

Năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan chọn Kim Long để xây dựng thủ phủ Ðàng Trong, từ đó phát triển lên thành Ðô thành Phú Xuân (thời chúa Nguyễn Phúc Khoát) rồi Kinh đô Huế (thời vua Quang Trung tiếp sang triều đại các vua Nguyễn), luôn luôn trên một địa bàn đô thị như bây giờ.
 Như vậy tính đến nay, đô thành Huế đã tồn tại gần 360 năm, và xét về mặt kiến trúc, vẫn giữ gần như nguyên vẹn một đô thị Việt Nam cổ xây dựng từ đầu thế kỷ XIX. Do vị trí lịch sử đặc biệt kéo dài trong nhiều thế kỷ, Huế có điều kiện giao lưu và tài bồi để tạo nên một trong những trung tâm văn hóa - lịch sử lớn nhất của đất nước.

Ðường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Sơn - Thủy là cặp yếu tố mang ý nghĩa giao hòa trường cửu rất được nhấn mạnh trong tư duy qui hoạch của những kiến trúc sư thời cổ đã xây dựng nên kinh thành Huế. Chính nhờ thế, mãi cho đến ngày nay, Huế là một trong số ít ỏi còn lại giữa lòng thế giới hiện đại vẫn đắm mình trong bài thơ sâu thẳm của thiên nhiên. Núi, sông hồ và biển dựng nên một không gian hoành tráng vừa mở ra tầm nhìn bát ngát, vừa viền khung lại trên mặt đất những bức tranh biến ảo đầy màu sắc do chính thiên nhiên vẽ vời nên. Thành phố đã từng biết đến nhiều thế kỷ tráng lệ này bây giờ vẫn còn lại một món quà tặng quý giá dành cho con người, đáp ứng một khao khát đang trở nên bức xúc đối với cư dân những đô thị hiện đại, là nhu cầu thiên nhiên.

Sông Bến NgựĐèo Hải Vân

Thiên nhiên mãi mãi tạo ra cho Huế một nỗi yên tĩnh, thật dễ chịu để chia sẻ với tâm hồn con người. Nhưng khác với im lặng của quá khứ, sự yên tĩnh của cố đô Huế vẫn sinh động cuộc sống nội tâm, với âm hưởng hào hùng của núi non, vị nồng mặn của biển, vẻ trầm mặc của dòng sông và hoa trái bốn mùa của những khu vườn. Ở đây thiên nhiên không chỉ là vẻ đẹp để ngắm, thiên nhiên còn hàm dưỡng những chất sống rất cần thiết cho con người... Vậy thiên nhiên chính là chất thơ sâu thẳm và còn mãi của Thành phố Kinh xưa này. Một người Nga, kiến trúc sư Iu. Murdin, đã nhận xét rằng trên thế giới có những loại Thành phố khác nhau: thành phố - công nhân, thành phố - khoa học, thành phố - cảng, thành phố khổng lồ và siêu khổng lồ. "Nhưng thật hiếm một thành phố - thơ. Vậy mà ở Việt Nam có thành phố như thế. Ðó là Huế".

Chúa Nguyễn Phúc Lan xứng đáng là người sáng lập Kinh Thành Huế, khi ông quyết định dời thủ phủ từ khu vực thành Châu Hóa xưa về Kim Long, chọn sông Hương làm trục chính để xây dựng thành phố. Ít có một dòng sông như vậy, như một dòng trường ca chuyên chở hết những giao hưởng của một vùng văn hóa xứ sở. Băng ngàn qua chất thơ hùng tráng của văn hóa cồng chiêng giữa lòng rừng già, dòng sông trở nên trầm mặc như triết nhân dưới chân những lăng tẩm, cổ tự và di tích trải dọc triền đồi trung du, mơ màng như mỹ nhân qua kinh thành để rồi òa vỡ thành khát vọng khi hòa mình vào phá Tam Giang kề biển. Ðến đây, phá sẽ thay sông đưa thành phố về phương Nam, gặp lại thành phố nghỉ mát Bạch Mã nổi tiếng bên bờ đầm Cầu Hai, dong ruổi qua những bãi biển lý tưởng Cảnh Dương và Lăng Cô, dưới chân đèo Hải Vân mà đá ải xưa vẫn chưa mờ bốn chữ "Ðệ nhất Hùng Quan".
Ðấy chính là tiềm năng du lịch quyến rũ nhất của Huế; và nếu biết trồng cây thì, nói như một câu thơ Pháp, "trái sẽ vượt qúa lời hẹn của bông hoa" (Et les Fruits dépasseront la promesse des fleurs).

Trên nền thơ bát ngát kia của thiên nhiên, quần tụ những công trình đại - kiến - trúc do con người xây dựng nên. Kiến trúc Nguyễn là một di sản hoàn mỹ đem lại niềm tự hào dân tộc về tài năng sáng tạo và tư tưởng cộng đồng của người Việt sau thời đất nước tái thống nhất vào đầu thế kỷ XIX.
Ðiều đáng ngạc nhiên trước hết là tính khoa học rất cao hàm chứa trong bản thân các di tích Huế, thí dụ như những tỷ lệ vàng trên tổng thể kiến trúc Cửa Ngọ Môn, phép đúc đồng bằng phương tiện thủ công để tạo nên những sản phẩm khổng lồ liền lỉ không dấu vết  nơi Cửu Ðỉnh, hộc đá âm vang đàn Nam Giao, mỹ nghệ trang trí bằng pháp lam, hoặc tỉ mỉ hơn, cách sắp xếp kiểu phương trận một nhóm chữ ít ỏi từ đó có thể đọc thành hàng chục bài thơ ở điện Long An, hoặc sự bố trí bí ẩn những câu của mỗi bài thơ rải rác quanh những mái nhà của lăng Minh Mạng; tất cả là những trò chơi đánh đố trí tuệ mà mãi gần đây đã được những nhà nghiên cứu giải mã. Từ năm 1957, nhóm các nhà Ðông Phương học Quốc tế do Viện sĩ Pháp Jean Cocteau cầm đầu đã xếp các di tích Huế vào hạng mục "những kỳ quan thế giới" (Les Merveilles Du Monde, Paris-1957).

Lăng Khải ĐịnhPhố cổ Bao Vinh

Vườn là ý niệm nhất quán về không gian bao quanh của tất cả các loại hình kiến trúc Huế: Vườn nhà, Vườn chùa, Vườn cung, Vườn lăng, Vườn làng và trong tổng thể Huế là một Thành phố Vườn. Ðiều này phản ánh một quan niệm sâu xa mang nguồn gốc tam giáo đồng nguyên của văn hóa Việt thời Lý - Trần, rằng con người và vũ trụ là cùng một bản thể, và được bạn lâu dài với thiên nhiên là một khát vọng giải phóng tâm linh nơi con người.
Lăng các vua Nguyễn là những kiến trúc hùng vĩ luôn luôn muốn giấu mặt trong tĩnh mịch của đồi núi. Mỗi lăng đều đầy cá tính về mặt kiến trúc, theo nguyên lý "Kiến trúc phải nói những điều khác nhau với những con người khác nhau" trong xu hướng kiến trúc hiện đại của Charles Moore; đồng thời lăng cũng là một hoa viên dành cho người sống hơn là cõi hư vô của người chết. Nét ung dung thảnh thơi từ cõi sống sang cõi chết là một phẩm chất nhân văn của Lăng Nguyễn và đấy cũng là phong thái nhẹ nhàng của người Huế đối diện với lẽ sinh tử vô thường của đời người.

Già tuổi nhất trong các di tích Huế là chùa Linh Mụ, từ năm 1600, và hàng loạt những kiến trúc lớn được xây cất qua các thế kỷ sau; thế nhưng tất cả đều đảm bảo được tính hài hòa bền vững của tổng thể Thành phố mà ông Tổng Giám Ðốc UNESCO A.M.M' Bow mệnh danh là "Một Kiệt tác của thi ca đô thị".
Vốn từng chung sống với nền văn hóa Chămpa nhiều thế kỷ thời tiền - Châu Hóa, tiếp xúc với văn minh phương Tây từ đầu thế kỷ XVII, mang theo di sản của tổ tiên từ châu thổ sông Hồng đi về Nam, cộng đồng người Việt ở đất kinh xưa bằng khả năng giao lưu bén nhậy đã tổng hợp nên tài sản mang một dấu ấn sâu sắc của một vùng cỏ hoa, gọi là "Văn hóa phi vật chất vùng Huế".

Qua nhiều thế kỷ, người Huế đã tạo nên một truyền thống văn học nghệ thuật riêng, một hệ thống ngũ âm và ngũ sắc riêng, một triết lý nhân văn biểu hiện qua những phong tục ứng xử và thờ phượng, cách nấu ăn và may mặc, lễ hội và giải trí riêng, hoặc có những thần linh và mê tín riêng. Tất cả tài sản văn hóa phi vật chất đó đều được diễn đạt "bằng giọng Huế" và trong cả cái hay lẫn cái dỡ của nó, đã tạo nên một bản sắc riêng gọi là "Tính cách Huế".
Ai cũng biết rằng "Văn hóa Huế không phải là tác phẩm riêng của cư dân bản địa. Vốn là thủ phủ, là kinh đô, Huế ngày xưa là trung tâm thu hút nhân tài của đất nước. Mỗi con người như vậy đều mang theo vốn sống tốt đẹp của quê hương mình đến tài bồi cho truyền thống của cộng đồng, để đến lượt mình, họ trở thành chủ nhân của một tài sản cứ giàu có mãi lên. Chính vì thế mà "Văn hóa Huế" vượt lên khỏi tính bản địa tầm thường để vươn tới sức đóng góp vào đời sống văn hóa chung của dân tộc. Huế không phải tự có từ chính bản thân mình, mà là thành quả của nhiều miền đất nước; thành quả đó được nhìn nhận là "Di Sản Văn Hóa Thế Giới" (UNESCO 1993).

Hiển nhiên là cộng đồng người Huế, cả chính quyền và nhân dân, đã được ủy thác trách nhiệm quản lý một di sản quí báu của dân tộc. Và không có ai quản lý một di sản chỉ bằng cách khai thác nó đến cạn kiệt mà không thấy có bổn phận gìn giữ và phát triển vì vinh danh tổ tiên, và quyền sống của đời sau.
Ðó là lương tâm và trách nhiệm, và là năng lực làm giàu cuộc sống, đối diện với Huế hôm nay và ngày mai.