Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832), là một dãy thành lũy dài cao 6,60m, dày 21m, với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài. Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam.

Vừa là cổng chính, vừa là bộ mặt Ðại Nội, được xây dựng vào năm 1833 khi Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội.

Trong phạm vị hoàng cung triều Nguyễn, Ðiện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất xét về nhiều mặt: chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật. Ðiện Thái Hòa là địa điểm sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình nhà Nguyễn.

Thế Miếu hay còn được gọi là Thế Tổ Miếu là miếu thờ của các vị vua triều Nguyễn. Thế Miếu tọa lạc ở phía tây nam của Hoàng thành. Trước đây, nơi này chính là tòa Hoàng Khảo Miếu - miếu thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long.

Hiển Lâm Các là công trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành. Đây được coi như một đài lưu niệm ghi công những công thần đã sáng lập ra triều Nguyễn. Hiển Lâm Các được xây dựng phía trước Thế Miếu, phía tây nam Hoàng Thành, từ năm 1821 đến năm 1822 dưới thời vua Minh Mạng.

Ðặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ Công đúc tại Huế từ cuối năm 1835-đầu 1837. Cửu Ðỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đinh nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước. Ðiều đó được thể hiện rất rõ trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Mỗi đỉnh có khắc một tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng) của một vị vua nhà Nguyễn.

Cung Diên Thọ ban đầu có tên là cung Trường Thọ, là một công trình kiến trúc được xây dựng từ năm 1802. Đến năm 1820, vua Minh Mạng đổi tên cung là Từ Thọ, vua Thành Thái đổi là Ninh Thọ năm 1901. Diên Thọ là tên cuối cùng do vua Khải Định đổi năm 1916. Cung Diên Thọ là nơi ở, sinh hoạt của các bà Hoàng Thái Hậu, thái thái hậu (vợ của các vị vua đã băng hà) được đặt tại phía bắc điện Phụng Tiên và phía nam cung Trường Sinh.

Công trình này được dựng từ năm 1825 trên hồ Học Hải, dùng làm nơi tàng trữ các công văn cũ của Lục bộ và các cơ quan của triều đình. Đây có thể coi là một trong những kho lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến 12.000 tập.

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, vua Gia Long ra lệnh tập trung tất cả khí dụng bằng đồng tịch thu được đúc thành 9 khẩu thần công để "làm kỷ niệm muôn đời" về chiến thắng của mình. Công việc được bắt đầu vào ngày 31-1-1803, hoàn tất vào cuối tháng 1 năm 1804. Mỗi khẩu dài 5,10m, nặng hơn 17.000 cân được đặt trên một giá súng và giá súng đều được chạm trổ cực kỳ công phu, tinh xảo.

Trên trục chính của Hoàng thành Huế, từ Kỳ đài nhìn ra sông Hương có hai công trình kiến trúc rất duyên dáng tô điểm cho bộ mặt của Kinh thành Huế. Một trong hai công trình ấy là Phu Văn Lâu.

[1]  2  
Thành phố Festival

Có toạ độ địa lý là 107°31‘45‘‘ - 107°38' kinh Ðông và 16°30'‘45‘‘-16°24' vĩ Bắc, thành phố Huế nằm ở vị...

Tuy có sự khác nhau giữa các nguồn sử liệu, song đã có nhiều ý kiến đồng tình với khẳng định vùng đất này trong...

Vùng đất Huế là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều, đã xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành...